• image01
  • image02
  • image03
  • image01
  • image02
  • image03
  • image01
  • image02

Thứ bảy, ngày 4/6/2016
CHÀO ĐÓN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH – MỪNG LONG KHÁNH VƯƠN LÊN TẦM CAO MỚI - PHÁT HUY PHẨM CHẤT ANH HÙNG, QUYẾT TÂM XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG LONG KHÁNH GIÀU ĐẸP, VĂN MINH
Đề cương tuyên truyền Đại hội Công đoàn tỉnh Đồng Nai lần thứ X, nhiệm kỳ 2018 - 2023


ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN 

ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2023

 323.jpg

 

Tài liệu tuyên truyền trong cán bộ Công đoàn, đoàn viên và người lao động

Đồng Nai, tháng 7/2018

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Được sự chấp thuận của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai, trong không khí thi đua sôi nổi của giai cấp công nhân cả nước hướng về Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, Đại hội Công đoàn tỉnh Đồng Nai lần thứ X, nhiệm kỳ 2018 - 2023 đã long trọng diễn ra thành công tốt đẹp trong 02 ngày 11 & 12 tháng 7 năm 2018 tại Trung tâm Hội nghị và tổ chức sự kiện tỉnh Đồng Nai.

Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh Đồng Nai về tuyên truyền kết quả Đại hội, Ban Tuyên giáo LĐLĐ tỉnh biên soạn cuốn “Đề cương tuyên truyền Đại hội Công đoàn tỉnh Đồng Nai lần thứ X, nhiệm kỳ 2018 – 2023”.

Tài liệu khái quát những nét cơ bản về tổ chức Công đoàn Việt Nam, Công đoàn Đồng Nai qua các kỳ Đại hội. Tóm tắt Nghị quyết của Đại hội về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Công Đoàn tỉnh lần thứ IX và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn và phong trào CNVCLĐ tỉnh Đồng Nai trong nhiệm kỳ 2018 – 2023.

Qua đó, giúp cán bộ Công đoàn, đoàn viên và người lao động hiểu sâu sắc hơn về giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn và những chặng đường vẻ vang của Công đoàn Đồng Nai. Xác định trách nhiệm đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Trong quá trình biên soạn, dù rất cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những sai sót, chúng lôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của cán bộ Công đoàn, đoàn viên và người lao động.

Xin trân trọng cảm ơn!

 

BAN TUYÊN GIÁO LĐLĐ TỈNH ĐỒNG NAI

 

PHẦN THỨ NHẤT

 

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN

VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

VÀ CÁC KỲ ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN ĐỒNG NAI

 

Quá trình hình thành và phát triển giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn gắn liền với những chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc. Trải qua các thời kỳ lịch sử cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt đi đầu cùng với nhân dân cả nước viết nên trang sử vẻ vang, truyền thống hào hùng của dân tộc, xứng đáng là giai cấp tiên phong, lãnh đạo trong mỗi thời kỳ cách mạng.

I. CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời gắn liền với hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Từ năm 1897 đến năm 1914 thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Chúng tập trung đầu tư vào các ngành chủ yếu như đường sắt, hầm mỏ, một số xí nghiệp, đồn điền… Theo đó, đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất (1914), công nhân Việt Nam có hơn 5 vạn người. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất chúng tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột để bù đắp lại những tổn thất chiến tranh. Thực dân Pháp tập trung đầu tư vào phát triển một số ngành khai khoáng, giao thông vận tải, đồn điền, công nghiệp chế biến, dệt… Đến cuối năm 1929, công nhân Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp tư bản Pháp hơn 22 vạn người. Trong đó chưa kể những người làm ở xí nghiệp nhỏ, thợ may, thợ cạo, thợ giặt, bồi bếp, khuân vác ở hải cảng…

Trước sự vơ vét tài nguyên và bóc lột nặng nề, làm cho nhân dân lao động, trước hết là nông dân bị phá sản, bần cùng. Nhiều cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước của nhân dân ta và các phong trào đấu tranh của công nhân liên tiếp diễn ra nhưng đều bị thất bại. Trước tình hình đó, ngày 05/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Qua nghiên cứu phong trào công nhân lao động của nhiều nước ở Châu Âu và nghiên cứu phong trào đấu tranh của Công đoàn các nước thuộc địa, Người viết: "Việc cần thiết hiện nay là phát động một cuộc tuyên truyền lớn để thành lập các tổ chức Công đoàn ở các nước thuộc điạ, nửa thuộc địa và phát triển Công đoàn hiện có dưới hình thức phôi thai"[1], "Tổ chức Công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới"[2]. Đồng thời, Người khẳng định Công hội là cơ quan của công nhân để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa.

Để truyền bá tư tưởng của mình và chủ nghĩa Mác - Lê nin vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước, tháng 6/1925 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung quốc) tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đào tạo nhiều thanh niên yêu nước. Trên cơ sở đó, từ năm 1925 -1929, nhiều cán bộ của thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã trở về nước và hoạt động trong phong trào công nhân, nhờ đó mà phong trào công nhân và tổ chức Công hội phát triển mạnh ở Bắc kỳ, Nam kỳ và Trung kỳ.

Đến giữa năm 1929, phong trào cách mạng ở Việt Nam đã hình thành 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương cộng sản Đảng ở Bắc kỳ (6/1929), An Nam cộng sản Đảng ở Nam kỳ (10/1929) và Đông Dương cộng sản Liên đoàn (1/1930) ở Trung kỳ. Sự ra đời của 3 tổ chức này bước đầu đã đáp ứng được những đòi hỏi của phong trào cách mạng và phong trào công nhân cả nước. Ở miền Bắc trên cơ sở Công hội ở các xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền, Đông dương cộng sản Đảng đã tổ chức thành hệ thống Công hội đỏ từ cơ sở đến liên tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định. Trước yêu cầu của cách mạng, để đẩy mạnh hơn nữa công tác công vận và tăng cường sức mạnh cho Công hội đỏ, Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông dương cộng sản Đảng đã chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh Uỷ viên BCH lâm thời, triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ. Và ngày 28/7/1929, tại nhà số 15 Hàng nón - Hà Nội, Đại hội Công hội đỏ chính thức được tổ chức. Đại hội đã bầu BCH lâm thời Tổng Công hội đỏ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh đứng đầu. Đại hội đã thông qua chương trình Điều lệ và ra "Báo Lao động" cùng tạp chí "Công hội đỏ" làm cơ quan ngôn luận của mình. Từ đây, tổ chức Công hội đỏ đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng Sản sáng lập đã chính thức ra đời.

Có thể nói Đại hội thành lập Công hội đỏ Bắc kỳ là một mốc son chói lọi có ý nghĩa to lớn trong tiến trình lịch sử phát triển của phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Đây là kết quả tất yếu của phong trào vận động công nhân và truyền bá lý luận Công đoàn cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đảng viên cộng sản vào phong trào công nhân nước ta. Đây cũng là thắng lợi của đường lối công vận Đảng ta. Tổng Công hội đỏ miền Bắc ra đời đáp ứng yêu cầu bức thiết của phong trào công nhân đang phát triển mạnh mẽ, đánh dấu sự trưởng thành của GCCN Việt Nam, đó là bước ngoặt về sự chuyển biến từ tự phát lên tự giác của giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX.

Lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn của mình, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, phản ánh được ý chí nguyện vọng của đông đảo công nhân, lao động. Chính vì vậy mà theo đề nghị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định lấy ngày 28/7/1929 làm ngày truyền thống của Công đoàn Việt Nam.

Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ đấu tranh giải phóng đất nước giành độc lập dân tộc, và đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Công đoàn Việt Nam đã trải qua 11 kỳ đại hội, với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng bản chất, nguyên tắc tổ chức của Công đoàn Việt Nam vẫn không hề thay đổi.

·      Công hội đỏ (1929 – 1935)

·      Nghiệp đoàn Ái Hữu (1935 – 1939)

·      Hội công nhân phản đế (1939 – 1941)

·      Hội công nhân cứu quốc (1941 – 1946)

·      Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1946 – 1961)

·      Tổng Công đoàn Việt Nam (1961 – 1988)

·      Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (từ 1988 đến nay).

II. CÁC KỲ ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN ĐỒNG NAI

Lực lượng công nhân lao động ở Đồng Nai là một bộ phận của dân tộc và giai cấp công nhân Việt Nam, ra đời rất sớm từ những ngày đầu Thực dân Pháp thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa những năm đầu thế kỷ XX. Với truyền thống đấu tranh của dân tộc, ngay khi ra đời, giai cấp công nhân ở Đồng Nai đã liên tục đấu tranh chống áp ức bóc lột của tư bản. Khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, công nhân Đồng Nai từ đấu tranh tự phát vươn lên đấu tranh tự giác, trở thành giai cấp tiên tiến, là lực lượng quan trọng trong đấu tranh giải phóng dân tộc; kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với nhân dân Đồng Nai, giai cấp công nhân ở địa phương với truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, nỗ lực và đã giành nhiều thành quả trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong công cuộc đổi mới, giai cấp công nhân ở Đồng Nai tiếp tục phát triển về số lượng và chất lượng, từng bước trở thành giai cấp “công nhân trí thức” góp phần vào việc xây dựng và phát triển kinh tế địa phương, là nòng cốt xây dựng khối đoàn kết công nhân – nông dân – trí thức trong tỉnh ngày càng bền vững.

Ngay sau khi tiếp quản (tháng 5/1975), theo chỉ đạo của Công đoàn Khu miền Đông, Liên hiệp Công đoàn tỉnh Biên Hòa được thành lập gồm 18 thành viên do đồng chí Nguyễn Việt Trân làm Thư ký, đồng chí Phạm Văn Hòa và Trần Công Trung làm Phó thư ký. Do tính chất quan trọng của Khu Kỹ nghệ, Liên hiệp Công đoàn tỉnh Biên Hòa đề nghị Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam ra quyết định thành lập Liên hiệp Công đoàn Khu Kỹ nghệ Biên Hòa để tập hợp, quản lý, bảo vệ quyền lợi công nhân lao động trong Khu Kỹ nghệ, trụ sở đóng tại văn phòng SONADÉZI. Ban Chấp hành Công đoàn Khu Kỹ nghệ gồm 13 đồng chí do đồng chí Nguyễn Việt Trân làm Thư ký và Phạm Văn Hòa làm Phó thư ký.

Sáng ngày 15-5-1975, trong ngày hội mừng chiến thắng, Liên hiệp Công đoàn tỉnh Biên Hòa và Công đoàn Khu Kỹ nghệ Biên Hòa tổ chức cuộc mít tinh với trên 3.000 công nhân Khu Kỹ nghệ và các xí nghiệp ở Biên Hòa tại Nhà máy Cogido. Ban Chấp hành Công đoàn Khu Kỹ nghệ Biên Hòa chính thức đi vào hoạt động. Để nhanh chóng phát triển tổ chức công đoàn trong các xí nghiệp ở Khu Kỹ nghệ Biên Hòa, Công đoàn Khu Kỹ nghệ đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về tình hình nhiệm vụ mới, yêu cầu cần thiết phải tổ chức công đoàn, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn cho từng xí nghiệp hoặc tổ chức từng cụm xí nghiệp theo tính chất sản xuất (công nghiệp kim khí, điện tử, hóa chất, vật liệu xây dựng…); tiến hành thành lập Ban Vận động thành lập công đoàn cơ sở ở các nh à máy. Đến cuối tháng 6-1975, đã thành lập được 16 Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở ở 29 nhà máy thuộc Khu Kỹnghệ Biên Hòa và 8 ban vận động thành lập công đoàn (sau khi tổ chức đại hội, 8 ban vận động trở thành 8 ban chấp hành Công đoàn cơ sở). Việc hình thành được tổ chức công đoàn trong 17 xí nghiệp đầu tiên trong Khu  ỹ nghệ Biên Hòa trong chỉ 2 tháng sau ngày giải phóng là một nỗ lực rất lớn của Ban Công nghiệp và Công đoàn Khu Kỹ nghệ, là tổ chức quần chúng nòng cốt để động viên phong trào công nhân sản xuất, qua đó Công đoàn Khu Kỹ nghệ tiếp tục chỉ đạo xây dựng công đoàn cơ sở các nhà máy còn lại. Đến cuối năm 1975, trong 49 nhà máy đã hoạt động sản xuất đều đã thành lập được công đoàn cơ sở để làm nhiệm vụ tập hợp, giáo dục, bảo vệ quyền lợi và động viên công nhân lao động hoàn thành nhiệm vụ chỉ tiêu được giao.

- Giai đoạn lâm thời 1975 - 7/1977: Năm 1975, sáp nhập CĐ khu Đông Nam bộ và CĐ KCN Biên Hòa thành Liên hiệp Công đoàn tỉnh Đồng Nai. Đ/c Nguyễn Thị Minh - giữ chức vụ Thư ký (như Chủ tịch hiện nay), đ/c Trần Thị Sơn - Phó Thư ký.

Tháng 1-1976, tỉnh Đồng Nai được thành lập Trên cơ sở sáp nhập các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa – Long Khánh và Tân Phú. Diện tích tỉnh Đồng Nai 8.360km, dân số 1.223.683 người, gồm thành ph ố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và các huyện: Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Long Thành, Long Đất, Châu Thành, Xuân Lộc, Tân Phú và Duyên Hải.

- Đại hội lần thứ  I (7/1977- 9/1980), Liên hiệp Công đoàn tỉnh Đồng Nai do đ/c Huỳnh Thị Phượng - Tỉnh ủy viên - giữ chức vụ Thư ký, đ/c Trần Thị Sơn - Phó Thư ký. Giai đoạn này có 156 CĐCS với 19.373 ĐV/ 51.420 LĐ.

- Đại hội lần thứ  II (9/1980- 9/1983), Liên hiệp Công đoàn tỉnh Đồng Nai do đ/c Nguyễn Thị Minh - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - giữ chức vụ Thư ký, đ/c Nguyễn Văn Cược - Phó Thư ký. Giai đoạn này có 333 CĐCS với 47.207 ĐV/ 89.058 LĐ.

- Đại hội lần thứ  III (9/1983- 9/1988), Liên hiệp Công đoàn tỉnh Đồng Nai do đ/c Nguyễn Văn Động - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - giữ chức vụ Thư ký, đ/c Nguyễn Văn Hoàng - Phó Thư ký (đến 8/1988 chuyển về Ban Trọng tài Kinh tế tỉnh), đ/c Nguyễn Văn Cược - Phó Thư ký (đến 4/1984 chuyển về phụ trách Phó BQL Lòng hồ Trị An). Giai đoạn này có 575 CĐCS với 99.114 ĐV/ 119.813 LĐ.

- Đại hội lần thứ  IV (9/1988- 5/1993), Từ tháng 11/ 1988 đổi tên thành Liên đoàn Lao động tỉnh Đồng Nai. Đ/c Nguyễn Văn Động - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy – giữ chức vụ Chủ tịch. Đến 03/02/1991 đ/c Nguyễn Văn Động mất do bệnh.

Tháng 9/1991, đ/c Nguyễn Đình Thắng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy – được Tỉnh ủy phân công làm Chủ tịch, đ/c Nguyễn Thành Tuấn và Đinh Thị Kim Thoa - Phó Chủ tịch.

Tháng 8/1991 tỉnh Đồng Nai được tách thành 02 tỉnh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, do đó thực lực tổ chức giảm. Đến cuối năm 1992, có 431 CĐCS với 74.171 ĐV/ 83.627 LĐ.

- Đại hội lần thứ  V (5/1993 - 6/1998), Đ/c Nguyễn Đình Thắng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy – tái đắc cử chức vụ Chủ tịch. 02 PCT là đ/c Nguyễn Thành Tuấn và Đinh Thị Kim Thoa. Giai đoạn này có 1.079 CĐCS với 118.225 ĐV/ 144.822 LĐ.

- Đại hội lần thứ  VI (6/1998 - 7/2003) Đ/c Nguyễn Đình Thắng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy – tái đắc cử chức vụ Chủ tịch. 02 PCT là đ/c Nguyễn Thành Tuấn và Đinh Thị Kim Thoa. Các ủy viên Ban Thường vụ Nguyễn Thị Thanh Toàn, Quách Thị Duyên, Phạm Thị Thanh Tựu, Nguyễn Sĩ Mơn, Đỗ Hoàng Thành, Nguyễn Thị Gái, Nguyễn Ngọc Quang. Giai đoạn này có 1.140 CĐCS với 123.552 ĐV/ 154.321 LĐ.

Đến tháng 5/1999 đ/c Nguyễn Đình Thắng được điều động về Tổng LĐLĐ Việt Nam giữ chức vụ Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn LĐVN. Tháng 9/1999, đ/c Lê Hồng Phương - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - được bầu làm Chủ tịch LĐLĐ tỉnh. Đ/c Huỳnh Tấn Kiệt – được bầu giử chức vụ Phó Chủ tịch.

- Đại hội lần thứ VII (7/2003- 7/2008), Đ/c Huỳnh Tấn Kiệt - Tỉnh ủy viên – giữ chức vụ Chủ tịch LĐLĐ tỉnh, 02 PCT là đ/c Lê Thị Mỹ Lệ và Huỳnh Văn Tịnh. Giai đoạn này có 1.393 CĐCS, với 188.386 ĐV/ 236.206 LĐ.

- Đại hội lần thứ  VIII  (7/2008 – 1/2013), Đ/c Huỳnh Tấn Kiệt - Tỉnh ủy viên – tái đắc cử chức vụ Chủ tịch LĐLĐ tỉnh, 02 PCT là đ/c Huỳnh Văn Tịnh và đ/c Lê Thị Mỹ Lệ. Ban Thường vụ gồm Hồ Thanh Hồng, Nguyễn Thị Thanh Toàn, Nguyễn Phước Mạnh, Phạm Thị Kim Thanh, Đoàn Văn Đây, Phan Thị Hiếu, Phạm Thị Thanh Tựu, Lâm Duy Tín. Giai đoạn này có 2.081 CĐCS, nghiệp đoàn, với 341.375 ĐV/ 405.121 LĐ.

Tháng 9/2010, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, đ/c Huỳnh Tấn Kiệt được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy và tiếp tục giữ chức vụ Chủ tịch LĐLĐ tỉnh. Tháng 12/2011, đc Huỳnh Văn Tịnh được Tỉnh ủy điều động về làm Bí thư huyện ủy Thống Nhất. Đ/c Đoàn Văn Đây và đ/c Hồ Thanh Hồng được bầu làm Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh.

- Đại hội lần thứ IX (01/2013 – 7/2018), Đ/c Huỳnh Tấn Kiệt - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy – Tái đắc cử chức vụ Chủ tịch LĐLĐ tỉnh. 05 PCT là đ/c Đoàn Văn Đây, Hồ Thanh Hồng, Nguyễn Phước Mạnh, Nguyễn Thị Như Ý, Tăng Quốc Lập. Các ủy viên Ban Thường vụ Nông Văn Dũng, Nguyễn Thị Kim Huệ, Lê Hữu Hiền, Phan Thị Hiếu, Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, Nguyễn Văn Thắng, Phạm Thị Xuân Đào, Lâm Duy Tín, Phạm Minh Thành. Đến cuối năm 2017 bổ sung 02 đ/c Nguyễn Văn Vang và Hồ Văn Lộc. Giai đoạn này có 2.492 CĐCS, với 474.592 ĐV/ 537.487LĐ.

Đến tháng 1/2018, đ/c Huỳnh Tấn Kiệt nghỉ hưu. Tháng 5/2018, đ/c Nguyễn Thị Như Ý - Tỉnh ủy viên - được bầu giữ chức vụ Chủ tịch LĐLĐ tỉnh.

- Đại hội X nhiệm kỳ 2018 – 2023 diễn ra vào ngày 11-12/7/2018 với sự tham dự của 398 đại biểu, đại diện cho 663.236 ĐV ở 2.802 CĐCS trong toàn tỉnh, với khẩu hiệu:

ĐỔI MỚI – DÂN CHỦ - ĐOÀN KẾT – TRÁCH NHIỆM

Đại hội xác định mục tiêu tổng quát “Tập trung đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn. Nâng cao hiệu quả nhiệm vụ đại diện, chăm lo thiết thực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ĐV&NLĐ. Tuyên truyền, giáo dục, vận động, xây dựng đội ngũ ĐV&NLĐ yêu nước, bản lĩnh chính trị, có trách nhiệm xã hội, có tay nghề giỏi, đời sống ổn định. Phát triển tổ chức Công đoàn vững mạnh, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, hợp tác ổn định quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, góp phần xây dựng Đồng Nai giàu mạnh, văn minh”.

Đại hội vinh dự được đón tiếp các đồng chí lãnh đạo:

-       Đ/c Bùi Văn Cường – UVTW Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

-       Đ/c Mai Đức Chính   – Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

-       Đ/c Nguyễn Phú Cường – UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai.

-       Đ/c Trần Văn Tư – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy

-       Đ/c Đinh Quốc Thái – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai

Cùng quý Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng LLVTND, Anh hùng Lao động; các đ/c trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các ban Đảng Tỉnh ủy, các ban HĐND, UBMTTQVN tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; Thường trực các huyện, thị, thành ủy, đảng ủy khối; các cơ quan, đơn vị phối hợp, đại diện BGĐ các doanh nghiệp có quy mô lao động lớn trên địa bàn tỉnh cùng các phóng viên các cơ quan báo chí trung ương và địa phương đến dự và đưa tin.

Tại Đại hội, đ/c Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đ/c Bí thư Tỉnh ủy đã có bài phát biểu quan trọng, đánh giá hoạt động Công đoàn và phong trào CNVCLĐ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ qua và chỉ đạo, định hướng cho mục tiêu và nhiệm vụ sắp tới. Đ/c Chủ tịch UBND tỉnh cũng đã có bài phát biểu chào mừng Đại hội, thông tin về định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và những nhiệm vụ đặt ra cho Công đoàn và đội ngũ CNLĐ của tỉnh trong giai đoạn tới.

Đại hội đã thảo luận bầu chọn ra 45 đ/c tham gia BCH LĐLĐ tỉnh khóa X, đ/c Nguyễn Thị Như Ý tái đắc cử chức vụ Chủ tịch LĐLĐ tỉnh; 03 Phó Chủ tịch gồm Tăng Quốc Lập, Hồ Thanh Hồng, Nông Văn Dũng; Ban Thường vụ có các đ/c Lê Hữu Hiền, Nguyễn Thị Thúy, Kiều Minh Sinh, Nguyễn Việt Hoài, Nguyễn Đức Thành, Lê Văn Vang, Nguyễn Thị Tuyết, Phạm Văn Chiến, Phạm Minh Thành, Hồ Văn Lộc; và đoàn đại biểu đi dự Đại hội XII Công đoàn Việt Nam gồm 24 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết.

o0o

Từ khi chính thức thành lập, trải qua 10 kỳ Đại hội, hệ thống tổ chức Công đoàn tỉnh Đồng Nai ngày càng lớn mạnh. Hiện nay toàn tỉnh có 18 Công đoàn cấp trên cơ sở và 01 CĐCS trực thuộc gồm:

1.  Liên đoàn Lao động thành phố Biên Hòa

2.  Liên đoàn Lao động thị xã Long Khánh

3.  Liên đoàn Lao động huyện Nhơn Trạch

4.  Liên đoàn Lao động huyện Long Thành

5.  Liên đoàn Lao động huyện Vĩnh Cửu

6.  Liên đoàn Lao động huyện Trảng Bom

7.  Liên đoàn Lao động huyện Thống Nhất

8.  Liên đoàn Lao động huyện Xuân Lộc

9.  Liên đoàn Lao động huyện Cẩm Mỹ

10.   Liên đoàn Lao động huyện Tân Phú

11.   Liên đoàn Lao động huyện Định Quán

12.   Công đoàn Khu công nghiệp Biên Hòa

13.   Công đoàn viên chức tỉnh

14.   Công đoàn ngành Giáo dục

15.   Công đoàn ngành Y tế

16.   Công đoàn ngành Công Thương

17.   Công đoàn Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai (DOFICO)

18.   Công đoàn Tổng công ty cổ phần phát triển Khu công nghiệp (SONADEZI)

19.   Công đoàn cơ sở Công ty Ô tô Trường Hải

Phong trào công nhân viên chức lao động và hoạt động Công đoàn ngày càng đi vào chiều sâu thiết thực đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh của tỉnh. Qua phong trào, đã có hàng vạn ĐV&NLĐ đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp, nhiều đơn vị được tôn vinh danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới; hàng ngàn cán bộ Công đoàn đã đựơc Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, Tỉnh ủy, Uỷ ban Nhân dân tỉnh tặng Bằng khen và được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn”.  Công đoàn Đồng Nai đã vinh dự được Đảng, Nhà nước, Tổng Liên đoàn tặng nhiều Huân chương, Cờ thi đua xuất sắc và Bằng khen.


PHẦN THỨ HAI

 

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LẦN THỨ IX, NHIỆM KỲ 2013 - 2018

 

I. TÌNH HÌNH ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN CÁC CẤP

Thực hiện Kế họach số 52/KH-TLĐ ngày 28/11/2016 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc tổ chức Đại hội công đoàn các cấp tiến tới Đại hội XII Công đoàn Việt Nam; Thông tri số 09-TT/TU ngày 25/01/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo đại hội công đoàn các cấp tiến tới Đại hội Công đoàn tỉnh Đồng Nai lần thứ X, nhiệm kỳ 2018 - 2023, Liên đoàn Lao động tỉnh đã xây dựng kế hoạch và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo Đại hội Công đoàn các cấp.

Đại hội, hội nghị công đoàn các cấp đã hoàn tất cuối quý I/2018, số đơn vị tổ chức đại hội, hội nghị đạt tỷ lệ 100%, tại đại hội các cấp đã bầu 11.179 ủy viên Ban Chấp hành cấp cơ sở và 368 ủy viên Ban Chấp hành cấp trên cơ sở.

II. BỐI CẢNH ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN TỈNH LẦN X

Đại hội lần thứ X Công đoàn tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2018 - 2023 diễn ra trong bối cảnh tình hình chính trị, an ninh, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang tác động sâu sắc đến sản xuất và đời sống xã hội, nhất là vấn đề việc làm và quan hệ lao động. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW của BCH TƯ Đảng (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, tổ chức Công đoàn đã có nhiều thay đổi tích cực.

Những năm qua, nền kinh tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với khu vực. Tình hình chính trị ổn định, xã hội có nhiều tiến bộ. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Thế và lực có nhiều chuyển biến tích cực; nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản.

Trong bối cảnh đó, tỉnh Đồng Nai đã nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện các mục tiêu đề ra. Kinh tế tiếp tục giữ mức tăng trưởng cao và ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng định hướng, thu hút đầu tư tăng; hoạt động văn hoá - xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; an sinh xã hội được thực hiện đồng bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, ổn định ([3]). Đảng bộ, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có nhiều chủ trương, chính sách phù hợp, sát với thực tiễn, qua đó nâng cao đời sống cho người lao động và hỗ trợ hoạt động của tổ chức Công đoàn về nhiều mặt.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ tỉnh Đồng Nai, tổ chức Công đoàn tỉnh Đồng Nai đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức; đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động, thực hiện ngày càng tốt hơn những nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn ngày càng phát triển, đã làm tốt vai trò là đại diện chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới trong 5 năm qua có nhiều thách thức, biến đổi phức tạp nên hoạt động sản xuất kinh doanh trên một số lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, đã tác động không nhỏ đến đời sống, việc làm của ĐV&NLĐ. Bên cạnh đó, một số chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực đầu tư, lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội còn nhiều bất cập; một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn tình trạng vi phạm về pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội… phần nào đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ĐV&NLĐ và hoạt động của tổ chức Công đoàn.

Đại hội Công đoàn tỉnh Đồng Nai lần thứ X có nhiệm vụ tổng kết đánh giá phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động Công đoàn tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2013 – 2018; đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp trong nhiệm kỳ 2018 – 2023. Nêu cao tinh thần đổi mới, dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm và phát huy năng lực, sức sáng tạo của đội ngũ cán bộ, đoàn viên, công nhân, viên chức và người lao động (ĐV&NLĐ); nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn; ra sức phấn đấu, thi đua lao động, sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của tỉnh và của tổ chức Công đoàn Việt Nam.

III. TÌNH HÌNH CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG

Tính đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có hơn 1.200.000 lao động ([4]), lao động nữ chiếm khoảng 67%, lao động ngoài tỉnh chiếm khoảng 60%, chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, trong khối doanh nghiệp ngoài nhà nước. Chất lượng của đội ngũ công nhân lao động (CNLĐ) từng bước được nâng lên về nhiều mặt, nhìn chung có tuổi đời trẻ, trình độ học vấn, chuyên môn tay nghề ngày càng được nâng lên, có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, tiếp cận nhanh với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Một bộ phận CNLĐ kỹ thuật chuyên môn đã trở thành cán bộ quản lý và điều hành doanh nghiệp ([5]). Lao động trong khối công chức, viên chức từng bước được chuẩn hóa, tích cực tham gia thực hiện cải cách hành chính, phục vụ cộng đồng với tinh thần tận tụy - trung thành - trách nhiệm - liêm chính - sáng tạo.

Trong 05 năm qua, Đảng, Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, chỉ đạo sát với thực tiễn, tạo điều kiện bảo vệ, chăm lo cho ĐV&NLĐ tốt hơn về mọi mặt. Tỉnh Đồng Nai đã có nhiều chỉ đạo cụ thể, kịp thời như Chỉ thị 23-CT/TU ngày 15/7/2014 về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 20 của BCH TW Đảng (khóa X), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần X (NK 2015 – 2020), Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 01/3/2017 về nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai,… nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích của Nhà nước đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, thị trường việc làm được mở rộng, điều kiện làm việc của người lao động từng bước được cải thiện. Tuy vậy, hằng năm vẫn còn tình trạng thất nghiệp (tự nguyện và bắt buộc) do nhiều nguyên nhân như giải thể, tái cơ cấu doanh nghiệp, tiền lương thấp, chế độ chưa thoả đáng, điều kiện làm việc chưa đảm bảo… Mức thu nhập bình quân của người lao động trong tỉnh hiện nay đạt khoảng 5.500.000 đồng/tháng, tuy nhiên, vẫn còn thấp so với mặt bằng sinh hoạt chung và có tình trạng không đồng đều giữa các doanh nghiệp, các khu vực. Một bộ phận CNLĐ phải làm thêm giờ, thêm việc để cải thiện điều kiện sống.

Vấn đề nhà ở, nhà trẻ phục vụ CNLĐ ở các khu công nghiệp vẫn là yêu cầu lớn. Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có nhiều biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng trường mầm non, ký túc xá dành cho CNLĐ, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay([6]). Đa phần người lao động (nhất là lao động ngoài tỉnh) vẫn phải thuê chỗ ở trong các khu nhà trọ tư nhân lân cận các KCN, doanh nghiệp; điều kiện sống, sinh hoạt vẫn còn một số nơi chưa đảm bảo vệ sinh, an toàn, dễ phát sinh các tệ nạn xã hội. Đời sống tinh thần của người lao động trong những năm qua từng bước được cải thiện, song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay, các thiết chế phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của ĐV&NLĐ còn nhiều hạn chế, bất cập trong quản lý, khai thác.

Nhìn chung, đại bộ phận ĐV&NLĐ có tinh thần yêu nước, ý thức chấp hành pháp luật, tác phong lao động ngày càng được nâng lên; tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp; từng bước làm chủ kỹ thuật, công nghệ mới, năng động, sáng tạo trong sản xuất, trong nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, tích cực tham gia các hoạt động xã hội cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ người lao động thiếu tinh thần cầu tiến, chưa có ý thức học tập nâng cao trình độ, ít quan tâm đến chính trị xã hội và sinh hoạt cộng đồng, ngại khó khăn thử thách rèn luyện, chuộng lối sống thực dụng, thiếu ý thức pháp luật và trách nhiệm công dân, dễ bị lôi kéo, kích động, gây ra các hành vi trái pháp luật, đã phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng lực lượng lao động, hoạt động Công đoàn và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN TỈNH LẦN IX, NHIỆM KỲ 2013 - 2018

Trong 5 năm qua, với sự chủ động, sáng tạo, tổ chức Công đoàn tỉnh Đồng Nai tiếp tục đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, luôn hướng về cơ sở, vì người lao động đã đạt nhiều kết quả và cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu chủ yếu do Đại hội Công đoàn tỉnh lần thứ IX (nhiệm kỳ 2018-2023) đề ra, tiêu biểu trên các lĩnh vực.

Thứ nhất, về hoạt động chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ĐV&NLĐ, các cấp Công đoàn thường xuyên tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức chính trị và kiến thức pháp luật cho ĐV&NLĐ bằng nhiều hình thức đa đạng, phong phú, từng bước chuẩn hóa và nâng cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác Công đoàn và chất lượng hoạt động của BCH Công đoàn các cấp, nhất là ở các CĐCS, thông qua việc tích cực tham gia với cơ quan chuyên môn đồng cấp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở([7]); xây dựng cơ chế, chính sách, nội quy lao động, quy chế phối hợp, nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện có hiệu quả thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) trong doanh nghiệp([8]). Tham gia hướng dẫn kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật; chất lượng bữa ăn ca; an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ, cải thiện điều kiện và môi trường làm việc cho ĐV&NLĐ([9]); đề xuất cơ chế chính sách liên quan đến nhà ở công nhân,... Điểm nổi bật là hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp luật cho ĐV&NLĐ đã khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn, với phương châm gần gũi, sâu sát, sẵn sàng phục vụ của đội ngũ luật sư, tư vấn viên và cán bộ Công đoàn các cấp đã xây dựng lòng tin vững chắc của ĐV&NLĐ vào tổ chức Công đoàn.

Công tác hỗ trợ, chăm lo đời sống cho ĐV&NLĐ và trong các dịp lễ, tết được các cấp công đoàn triển khai thực hiện đồng bộ với nội dung và hình thức phong phú, thiết thực như Tết Sum vầy, Tết Lao động, Chương trình nhà ở “Mái ấm Công đoàn”, “Quỹ xã hội”,  Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo (Tổ chức tài chính vi mô CEP), Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm... đã được các cấp Công đoàn và ĐV&NLĐ tích cực triển khai thực hiện hiệu quả, chăm lo thiết thực cho ĐV&NLĐ đang gặp khó khăn về nhà ở, bị bệnh hiểm nghèo, tai nạn lao động, có hoàn cảnh đặc biệt... ([10]).

Thứ hai, công tác tuyên truyền, vận động; nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức pháp luật, trình độ kỹ năng nghề nghiệp; chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho ĐV&NLĐ, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của tổ chức Công đoàn, trong 5 năm qua, với phương châm đổi mới, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của ĐV&NLĐ, các cấp Công đoàn đã tập trung tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, ĐV&NLĐ; tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Công đoàn các cấp và các sự kiện lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội của dân tộc, đất nước và tổ chức Công đoàn. Giáo dục chính trị tư tưởng, gắn với truyền thống yêu nước, nâng cao ý thức cảnh giác, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” và các quan điểm, tư tưởng trái với đường lối, mục tiêu, lý tưởng của Đảng và giai cấp công nhân([11]). Triển khai có hiệu quả việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, gắn với việc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của cán bộ, ĐV&NLĐ([12]). Xác định phương thức tuyên truyền miệng là một trong những phương thức tuyên truyền hiệu quả, các cán bộ chủ chốt của các cấp Công đoàn đều tham gia đội ngũ báo cáo viên pháp luật của địa phương([13])

Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, ĐV&NLĐ được các cấp Công đoàn chú trọng. Phong trào học tập suốt đời, gia đình học tập được triển khai sâu rộng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị chuyên môn, hoạt động học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong cán bộ, ĐV&NLĐ diễn ra sôi nổi, có định hướng và đạt những kết quả nhất định ([14]).

Các cấp Công đoàn chủ động phối hợp với chính quyền các cấp, các ngành, các doanh nghiệp xây dựng, khai thác các thiết chế văn hóa cơ sở, xây dựng các điểm hỗ trợ công nhân nhằm giúp cho người lao động có điều kiện và địa điểm sinh hoạt đã đáp ứng cơ bản nhu cầu của ĐV&NLĐ về vui chơi, giải trí nâng cao đời sống văn hóa tinh thần([15]). Báo Lao động Đồng Nai đã đưa vào khai thác có hiệu quả trang báo điện tử, phối hợp Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy thực hiện Bản tin Đại đoàn kết hàng tháng ([16]).

 

Thứ ba, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong ĐV&NLĐ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội do Công đoàn phát động được triển khai sâu rộng, phù hợp đến từng đối tượng ĐV&NLĐ, gắn với mục tiêu, định hướng phát triển của tỉnh, tạo chuyển biến tích cực trong hoạt động Công đoàn và thu được nhiều kết quả quan trọng, đã cổ vũ, khích lệ tinh thần lao động, sáng tạo xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, góp phần ổn định tình hình quan hệ lao động tại cơ sở, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong nhiệm kỳ qua, LĐLĐ tỉnh đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo các cấp Công đoàn thực hiện tốt công tác Thi đua, Khen thưởng và tuyên truyền, vận động ĐV&NLĐ tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước do UBND tỉnh, Tổng Liên đoàn LĐVN phát động với nhiều mô hình mới, hiệu quả. Nhiều ĐV&NLĐ tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của doanh nghiệp([17]). Các cấp Công đoàn thường xuyên tổ chức nhiều hình thức tôn vinh, khen thưởng động viên các tập thể cá nhân tiêu biểu xuất sắc ([18]).

Thứ tư, công tác phát triển đoàn viên, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh. Trong 5 năm qua, chương trình phát triển đoàn viên được cụ thể hóa và tập trung triển khai thực hiện với nhiều giải pháp đa dạng, phong phú. Nội dung, hình thức tuyên truyền vận động phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS được đổi mới, gắn với củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của CĐCS. Một số CĐCS thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô lao động lớn đã áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt phù hợp với điều kiện đơn vị, đồng thời đảm bảo đúng trình tự thủ tục Điều lệ Công đoàn Việt Nam về tổ chức kết nạp đoàn viên.

Trong nhiệm kỳ, kết nạp 376.045 ĐV, thành lập 788 CĐCS, thực tăng 227.104 đoàn viên (đạt 151,4% chỉ tiêu NQ Đại hội IX; đạt 117,1% chỉ tiêu do Tổng Liên đoàn giao), và 402 CĐCS (đạt 114,85% chỉ tiêu NQ Đại hội IX). Tính đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có 2.802 CĐCS với 663.236 ĐV/ 704.817 LĐ (trong các đơn vị có tổ chức Công đoàn), đạt tỷ lệ 94,1% (vượt chỉ tiêu) Đoàn viên nòng cốt đạt 44,41%.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ và kiện toàn BCH Công đoàn các cấp được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước khắc phục dần tình trạng thiếu hụt cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt của Công đoàn từ tỉnh đến cơ sở ([19])

BCH LĐLĐ tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp, thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 01/3/2017 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa X) về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, gắn với đặc điểm của đoàn viên và điều kiện sản xuất kinh doanh của từng đơn vị, doanh nghiệp và từng loại hình CĐCS đã được cụ thể hóa thông qua việc xây dựng bảng chấm điểm đánh giá, xếp loại và triển khai thực hiện trong hệ thống Công đoàn toàn tỉnh, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của CĐCS, khắc phục tính hình thức trong đánh giá, xếp loại ([20])

Thông qua hoạt động, các cấp công đoàn đã giáo dục, lựa chọn, bồi dưỡng và giới thiệu 19.954 đoàn viên ưu tú cho đảng xem xét kết nạp([21]). Hiện có 267 đảng viên ở các doanh nghiệp khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia sinh hoạt đảng tại các chi bộ, đảng bộ LĐLĐ các huyện và khu công nghiệp. Bên cạnh đó, Công đoàn các cấp đã tích cực giới thiệu đại diện của tổ chức Công đoàn tham gia ứng cử vào Hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội khoá XIV, có 25 cán bộ được bầu vào HĐND các cấp, 01 cán bộ được bầu vào Quốc hội khóa XIV.

Thứ năm, hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện Điều lệ và các quy định của Công đoàn trong nhiệm kỳ qua đã có những bước tiến quan trọng, bám sát chỉ đạo của Tỉnh ủy và Tổng Liên đoàn, gắn với tình hình cụ thể ở mỗi cấp để tổ chức triển khai thực hiện. Qua đó, phát huy vai trò của Ủy ban kiểm tra và cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát của Công đoàn các cấp góp phần nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ; tích cực phát hiện và ngăn chặn kịp thời các biểu hiện vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của Công đoàn; nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản Công đoàn, hạn chế tiêu cực góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh. Công tác kiện toàn bộ máy, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa cán bộ UBKT được quan tâm, chất lượng ngày càng được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Mối quan hệ giữa UBKT các cấp được hoàn thiện hơn tạo sự hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ ([22]). tiếp nhận, giải quyết và tham gia giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của ĐV&NLĐ theo đúng trình tự quy định. ([23]).

Thứ sáu, công tác chăm lo, xây dựng đội ngũ ĐV&NLĐ nữ được thực hiện thường xuyên thông qua việc tham gia Đoàn kiểm tra, giám sát giải quyết các kiến nghị của lao động nữ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho lao động nữ. Các cấp công đoàn trong tỉnh phối hợp với Hội LHPN và Ban vì sự tiến bộ phụ nữ cùng cấp tổ chức nhiều hoạt động họp mặt, khen thưởng, tọa đàm, ôn lại truyền thống, trao đổi kinh nghiệm công tác, hoạt động văn hóa, thể thao cho nữ CNVCLĐ nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ, khởi nghĩa Hai Bà Trưng, ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam, Ngày Phụ nữ Việt Nam,... Phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ được triển khai sâu rộng ở các cấp Công đoàn với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm tình hình của ngành, đơn vị ([24]). Các hoạt động an sinh xã hội trong ĐV&NLĐ nữ được đẩy mạnh, hỗ trợ giúp nữ CNVCLĐ cải thiện kinh tế gia đình ([25]). Hàng năm, các cấp Công đoàn đã duy trì và tổ chức có hiệu quả các hoạt động thiết thực chăm lo cho con CNVCLĐ ([26]). Trong đó, hoạt động tuyên dương con CNVCLĐ, lực lượng vũ trang có thành tích “Học giỏi, sống tốt” là một điểm nhấn trong công tác chăm lo cho ĐV&NLĐ, được LĐLĐ triển khai thực hiện từ năm 2000. Trong nhiệm kỳ qua, đã có 331.680 lượt con CNVCLĐ và cán bộ chiến sĩ LLVT được tuyên dương và khen thưởng về thành tích học tập và rèn luyện đạo đức tác phong, với tổng kinh phí trên 60 tỷ đồng.

Thứ bảy, công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản Công đoàn, 5 năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. LĐLĐ tỉnh đã xây dựng và ban hành các văn bản về chế độ, định mức phù hợp với tình hình thực tế trên cơ sở nguyên tắc chung về quản lý tài chính, bám sát tinh thần Nghị quyết của Tổng Liên đoàn về “Công tác tài chính Công đoàn trong tình hình mới”, Nghị quyết về “Điều chỉnh giảm tỷ trọng chi hành chính, hoạt động phong trào tại các cấp Công đoàn để tạo nguồn kinh phí cho đầu tư xây dựng các thiết chế của Công đoàn phục vụ đoàn viên, công nhân, lao động các khu công nghiệp, khu chế xuất”. Các cấp Công đoàn thực hiện nghiêm cơ chế quản lý, sử dụng tài chính Công đoàn theo quy định của Tổng Liên đoàn. Việc chấp hành chế độ kế toán và các quy định về quản lý tài chính trong công tác giao dự toán, thực hiện dự toán, quyết toán từng bước đi vào nề nếp. Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh thường xuyên chỉ đạo các cấp Công đoàn quan tâm, thực hiện công tác quản lý, chi tiêu đảm bảo đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm, ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức Công đoàn. Công tác thu tài chính Công đoàn hàng năm đều tăng dần, năm sau thu cao hơn năm trước. Nguồn thu nộp về Tổng Liên đoàn hàng năm đều vượt chỉ tiêu được giao.

Thứ tám, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của BCH Công đoàn các cấp. Căn cứ Nghị quyết Đại hội IX Công đoàn tỉnh, các cấp Công đoàn đã xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để quán triệt và triển khai tổ chức thực hiện, bám sát các chương trình nhiệm vụ đã đề ra; chủ động lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm để cụ thể hóa thành chương trình, biện pháp triển khai thực hiện phù hợp với thực tiễn. Trong đó, việc tập trung thực hiện đạt hiệu quả cao 4 chương trình trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX đã khẳng định tinh thần tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa trong các cấp Công đoàn, gắn nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của mi ngành, mi cấp, mi đơn vị để vận động ĐV&NLĐ tích cực lao động sản xuất mang lại hiệu quả cao nhất góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà.

MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN:

- Việc thực hiện chức năng đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của ĐV&NLĐ ở một số nơi còn hạn chế, chưa đáp ứng được xu thế phát triển và nhu cầu thực tế. Tình hình tranh chấp lao động, đình công còn xảy ra, một số vụ việc có đông CNLĐ tham gia, nhiều vụ việc xảy ra tại các doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn. Số lượng các cuộc kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến NLĐ còn chưa tương xứng với số lượng doanh nghiệp. Việc ký kết TƯLĐTT, tổ chức hội nghị NLĐ, đối thoại tại nơi làm việc còn không ít khó khăn, chất lượng TƯLĐTT chưa cao, vẫn còn tình trạng quy định chung chung, sao chép luật.

- Công tác tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp cho người lao động ở khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và tư nhân còn hạn chế. Công tác nắm bắt dư luận xã hội và xử lý kịp thời diễn biến tư tưởng của ĐV&NLĐ chưa đáp ứng được quy mô và tốc độ phát triển của lực lượng lao động. Việc đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa dành cho ĐV&NLĐ chưa thực hiện được.

- Các phong trào thi đua trong ĐV&NLĐ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước còn hạn chế. Số lượng các đề tài, sáng kiến, công trình sáng tạo chưa nhiều, mới ở tầm cơ sở, đa phần mang tính chất sáng kiến kinh nghiệm. Việc tuyên truyền, nêu gương các điển hình còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp Công đoàn với các cơ quan thông tin đại chúng. Trong công tác khen thưởng, tỷ lệ công nhân lao động trực tiếp sản xuất chưa nhiều so với quy mô hiện nay.

- Công tác thành lập tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước vẫn chưa theo kịp sự phát triển doanh nghiệp. Phát triển đoàn viên vượt chỉ tiêu nhưng số lượng đoàn viên giảm khá lớn do nghỉ việc, chuyển đổi nơi làm việc. Công tác quản lý, đánh giá phân loại đoàn viên còn nhiều bất cập. Một số nơi chưa gắn việc thành lập CĐCS với việc nâng cao năng lực hoạt động của cán bộ CĐCS và thương lượng tập thể tại nơi làm việc. Kết quả công tác giới thiệu phát triển đảng viên  còn chưa cao, nhất là đối với lực lượng CNLĐ trực tiếp sản xuất.

- Công tác kiểm tra, giám sát và hoạt động của UBKT ở một số nơi vẫn còn hạn chế, dàn trải, chất lượng các cuộc kiểm tra chưa cao; việc thành lập, kiện toàn UBKT ở CĐCS còn chậm, phân công cán bộ phụ trách công tác kiểm tra chưa đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định. Việc giải quyết, tham gia giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của ĐV&NLĐ ở một số nơi chưa kịp thời, dứt điểm dẫn đến một số trường hợp khiếu kiện vượt cấp.

- Số lượng Ban Nữ công quần chúng tuy có tăng, nhưng tỷ lệ thành lập ở các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước còn thấp, chưa phát triển đồng bộ với việc thành lập CĐCS mới. Vai trò trách nhiệm của BCH CĐCS trong chỉ đạo hoạt động của Ban Nữ công quần chúng chưa được phát huy đúng mức; Chất lượng hoạt động nữ công ở nhiều CĐCS và công tác tuyên truyền chính sách pháp luật, tư vấn, chăm sóc sức khỏe cho lao động nữ còn hạn chế. Chưa có nhiều biện pháp và hình thức thích hợp trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của ĐV&NLĐ nữ.

- Vẫn còn tình trạng thất thu kinh phí Công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tư nhân, và doanh nghiệp chưa có tổ chức Công đoàn. Công tác quản lý tài chính Công đoàn một số nơi chưa chặt chẽ. Việc phân cấp tài chính cho Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở chưa được thực hiện toàn diện.

- Ban Chấp hành Công đoàn các cấp luôn bám sát nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ, nhưng đôi lúc còn chậm trong tiến độ thực hiện; chế độ thông tin báo cáo có lúc chưa kịp thời. Nhiều lĩnh vực hoạt động có những đổi mới về hình thức mang lại hiệu quả, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của phong trào và quy mô của lực lượng lao động. Việc nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả còn gặp khó khăn. Công tác chỉ đạo của BCH Công đoàn các cấp có lúc còn dàn trải, giải pháp chưa hiệu quả. Công tác phối kết hợp với chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp còn chưa đạt hiệu quả nổi bật.

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan, đó là:

- Một số CĐCS chưa có giải pháp chủ động nắm bắt được với những yêu cầu từ ĐV&NLĐ để có giải pháp kịp thời. Một bộ phận cán bộ Công đoàn còn hạn chế về năng lực, kỹ năng hoạt động, khả năng ứng phó thực tế còn lúng túng, thiếu chủ động trong tham mưu đề xuất những mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả trong hoạt động và công tác xây dựng tổ chức Công đoàn. Mặt khác, cán bộ Công đoàn cơ sở đa phần là kiêm nhiệm, hưởng lương từ doanh nghiệp nên ngại va chạm, sợ bị trù dập, mất việc làm, nên chưa mạnh dạn đấu tranh, chưa phát huy tối đa vai trò của Công đoàn trong bảo vệ quyền lợi cho ĐV&NLĐ.

- Phương thức tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật còn thiếu sức hút, chưa có nhiều hình thức mới, phù hợp với điều kiện sống và làm việc của ĐV&NLĐ ở từng khu vực. Một số nơi, Công đoàn chưa tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và sự phối hợp của chính quyền cùng cấp trong công tác thi đua khen thưởng. Một số đơn vị chưa chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức phong trào thi đua cho phù hợp với đặc điểm của ngành, lĩnh vực, đơn vị mình.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn còn nặng về lý thuyết, chưa gắn với thực tiễn. Chưa bố trí được nhiều cán bộ chuyên trách ở công đoàn khu vực ngoài nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động của CĐCS. Công tác kiểm tra đánh giá, xếp loại CĐCS chưa thực sự gắn với thực tiễn phong trào của từng loại hình cơ sở.

- Công tác điều tra, khảo sát tình hình phát triển doanh nghiệp và CNLĐ chưa kịp thời. Kế hoạch phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS của một số công đoàn cấp trên cơ sở chưa sát với tình hình thực tế. Qui mô, tính chất từng loại hình CĐCS khác nhau nhưng biên chế chưa được bố trí phù hợp để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của Công đoàn.

- Ở CĐCScông đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, các ủy viên UBKT đều làm công tác kiêm nhiệm, chủ yếu tập trung cho công tác chuyên môn, nên không có nhiều thời gian để đầu tư nghiên cứu, tham gia công tác kiểm tra, giám sát. Sự quan tâm, hướng dẫn, chỉ đạo của UBKT công đoàn cấp trên cơ sở đối với UBKT công đoàn cơ sở một số nơi chưa thực sự kịp thời, sâu sát. Đội ngũ cán bộ phụ trách tài chính ở Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở còn mỏng so với nhiệm vụ quản lý tài chính trong tình hình mới. Bên cạnh đó, một số đơn vị chưa có giải pháp hiệu quả để hạn chế thất thu tài chính Công đoàn.

- Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động của Công đoàn cấp trên cơ sở chưa đầy đủ. Số lượng biên chế cán bộ chuyên trách Công đoàn ở cấp trên cơ sở hiện nay còn thiếu, trong khi đó số lượng CĐCS và đoàn viên ngày càng tăng (có đơn vị tăng gấp 3 lần so với đầu nhiệm kỳ), nhưng số lượng cán bộ chuyên trách vẫn như cũ, cấp huyện bình quân chỉ 4 – 5 cán bộ.

Bên cạnh đó lã những tác động khách quan:

- Một số quy định của pháp luật về lao động và hoạt động Công đoàn còn bất cập như quy định về thực hiện quyền khởi kiện tại tòa án của tổ chức Công đoàn, quy định về trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tạo điều kiện về thời gian để tổ chức Công đoàn thực hiện chức năng và nhiệm vụ tuyên truyền vận động người lao động, quy định về đối thoại tại nơi làm việc… Tình trạng doanh nghiệp nợ BHXH vẫn còn tồn tại ([27]), gây ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ. Điều kiện làm việc, ATVSLĐ, ATVSTP, chất lượng bữa ăn giữa ca của người lao động ở nhiều doanh nghiệp chưa được cải thiện, còn tiềm ẩn nguy cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động.

- Nhiều doanh nghiệp viện dẫn lý do tập trung sản xuất kinh doanh, khó khăn về cơ sở vật chất… nên chưa thể hiện trách nhiệm trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tổ chức đối thoại với NLĐ; chưa quan tâm đúng mức đến việc đầu tư hệ thống thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, cải thiện sức khỏe cho công nhân lao động. Bên cạnh đó, môi trường văn hoá doanh nghiệp, phong tục tập quán ở nhiều nơi khác biệt (43 quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh và CNLĐ đến từ nhiều vùng miền trong cả nước), cũng ảnh hưởng đến nếp sống, sinh hoạt của CNLĐ và hoạt động Công đoàn, nhất là khó khăn trong việc áp dụng, nhân rộng các mô hình, điển hình. Mặt khác, đa số ĐV&NLĐ do cường độ làm việc cao nên ít dành thời gian tham gia sinh hoạt chính trị, học tập nâng cao trình độ kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, vui chơi, giải trí.

- Sự phối hợp, tạo điều kiện của cơ quan chuyên môn, chính quyền cùng cấp tại một số đơn vị đối với công tác thi đua khen thưởng còn hạn chế. Chưa có sự phân biệt rõ về tiêu chuẩn khen thưởng giữa lãnh đạo quản lý và người lao động, vì vậy khi xét chọn thì hội đồng khen thưởng của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thường tập trung nhiều vào lãnh đạo mà ít ưu tiên người lao động. Bên cạnh đó, kinh phí dành cho công tác thi đua, khen thưởng ở một số nơi còn hạn chế so với yêu cầu nên chưa phát huy tốt tác dụng trong khen thưởng, cổ vũ, động viên phong trào.

- Công tác vận động, thuyết phục các chủ doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước về việc thành lập tổ chức Công đoàn vẫn còn gặp khó khăn. Vẫn còn nhiều chủ doanh nghiệp chưa nhận thức rõ vai trò, vị trí của tổ chức Công đoàn nên chưa ủng hộ, thậm chí gây khó khăn. Một bộ phận công nhân, người lao động chưa giác ngộ về lý tưởng cách mạng hoặc chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt là làm việc để có lương, có thưởng; mặt khác, còn tư tưởng mình là người làm thuê, sợ mất việc nên không tha thiết phấn đấu đứng vào hàng ngũ của Đảng và tham gia các hoạt động đoàn thể.

V. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX Công đoàn tỉnh Đồng Nai, nhiệm kỳ 2013 - 2018, Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh khóa IX rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, hoạt động của Công đoàn phải đặt mục tiêu chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng về chính trị, vật chất và tinh thần của ĐV&NLĐ lên hàng đầu. Trong đó, chú trọng việc huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia chăm lo cho ĐV&NLĐ. Khẳng định quyền lợi của ĐV&NLĐ khi tham gia tổ chức Công đoàn.

Hai là, luôn bám sát sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn cấp trên và chú trọng công tác phối hợp với chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước, các đoàn thể và giới chủ doanh nghiệp, tạo nên sức mạnh chung để nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn. Chú trọng nắm bắt dư luận xã hội và tâm tư, nguyện vọng của ĐV&NLĐ đối với những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lao động và Công đoàn để làm cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo phong trào và kịp thời phát hiện, đề xuất với Đảng, chính quyền có giải pháp xử lý đồng bộ, bổ sung điều chỉnh sát với yêu cầu nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn và phù hợp với thực tiễn tại cơ sở.

Ba là, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất về nhận thức và hành động trong tập thể BCH Công đoàn các cấp. Phát huy vai trò của từng Ủy viên BCH, nhất là người đứng đầu, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải chặt chẽ, không dàn trải, xác định rõ những việc trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện và đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đồng thời sơ, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời.

Bốn là, xác định hoạt động của CĐCS, công tác phát triển đoàn viên, thành lập tổ chức Công đoàn là nhiệm vụ trọng tâm, mục tiêu hàng đầu và là tiêu chí đánh giá chất lượng của tổ chức Công đoàn. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Công đoàn theo đặc điểm của từng loại hình cơ sở để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình. Hoạt động Công đoàn phải thật sự là hoạt động của mọi ĐV&NLĐ và được ĐV&NLĐ tích cực tham gia với tinh thần tự nguyện.

Năm là, cần ưu tiên lựa chọn cán bộ nhiệt huyết, trưởng thành từ phong trào cơ sở, được ĐV&NLĐ tín nhiệm, để đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kiến thức về pháp luật lao động và kỹ năng nghiệp vụ Công đoàn để tạo nguồn cán bộ dồi dào, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Có giải pháp nâng cao chế độ đãi ngộ hợp lý và cơ chế bảo vệ cán bộ trong hoạt động công đoàn và công tác chuyên môn.

òòò

Nhìn chung, sau 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn tỉnh lần thứ IX, tổ chức Công đoàn tỉnh Đồng Nai đã có nhiều bước tiến mới, số lượng CĐCS tăng 13%, đoàn viên tăng 40%, tỷ lệ CĐCS vững mạnh tăng 5% so với đầu nhiệm kỳ. ĐV&NLĐ Đồng Nai luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có ý thức công dân, chấp hành pháp luật, luôn tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước; tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp; năng động, sáng tạo trong sản xuất, trong nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, hăng hái tham gia các hoạt động xã hội cộng đồng, đóng góp tích cực vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai.


PHẦN THỨ BA

 

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO CNVCLĐ

NHIỆM KỲ 2018 - 2023

 

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH

Trong 5 năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn những diễn biến khó lường. Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh, Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ngày càng sâu rộng hơn. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho ĐV&NLĐ, đồng thời cũng gia tăng sự cạnh tranh về thị trường lao động và hoạt động Công đoàn. Nhiều cơ sở pháp lý sẽ có sự điều chỉnh, thay đổi; quan hệ lao động ngày càng phức tạp, nhu cầu của ĐV&NLĐ ngày càng cao. Trong khi đó, lực lượng lao động ngày càng tăng, một bộ phận người lao động còn hạn chế về kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn, tay nghề, tác phong lao động công nghiệp chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới sẽ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; tình trạng thất nghiệp và tái thất nghiệp sẽ diễn ra thường xuyên hơn. Bên cạnh đó, thu nhập chưa đảm bảo cuộc sống, điều kiện ăn, ở, sinh hoạt hết sức khó khăn, người lao động dễ bị lôi kéo, kích động, vướng vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.

Tổ chức Công đoàn cũng còn nhiều hạn chế, chuyển biến chưa rõ nét về nội dung và phương thức hoạt động; Trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng hoạt động của cán bộ công đoàn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn, nhất là cán bộ CĐCS chủ yếu là kiêm nhiệm lại thường xuyên biến động. Kinh phí Công đoàn chưa đáp ứng được nhu cầu chi cho hoạt động, nhất là đối với hoạt động Công đoàn ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tình hình đó đặt ra những yêu cầu mới cho tổ chức Công đoàn phải không ngừng nỗ lực chuyển biến tích cực, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hơn nữa, để thực sự là tổ chức đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của ĐV&NLĐ.

II. MỤC TIÊU

đại hội X Công Đoàn tỉnh Đồng Nai xác định mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ 2018-2023 là

Tập trung đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn. Nâng cao hiệu quả nhiệm vụ đại diện, chăm lo thiết thực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ĐV&NLĐ. Tuyên truyền, giáo dục, vận động, xây dựng đội ngũ ĐV&NLĐ yêu nước, bản lĩnh chính trị, có trách nhiệm xã hội, có tay nghề giỏi, đời sống ổn định. Phát triển tổ chức Công đoàn vững mạnh, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, hợp tác ổn định quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, góp phần xây dựng Đồng Nai giàu mạnh, văn minh.

Xác định những chỉ tiêu trọng tâm là:

+ Nhóm chỉ tiêu chính:

- Phấn đấu phát triển ít nhất 120.000 đoàn viên. Tỷ lệ tập hợp đạt 95% ([28]) (khối HCSN: 98%, DN nhà nước: 95%, DN có vốn đầu tư nước ngoài và tư nhân đạt 90%).

- Xây dựng lực lượng đoàn viên nòng cốt khối HCSN và doanh nghiệp vốn nhà nước đạt 45%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 15%.([29])

- Thành lập ít nhất 300 CĐCS mới. Phấn đấu 100% các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (có đủ điều kiện) thành lập tổ chức Công đoàn.

- Hàng năm ít nhất 75% CĐ các cấp đạt vững mạnh (khối HCSN 95%, doanh nghiệp nhà nước 90%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tư nhân 65%).

- 100% CĐCS trong các doanh nghiệp nhà nước 80% doanh nghiệp ngoài nhà nước thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể([30]); 80% các bản TƯLĐTT đảm bảo nội dung có lợi hơn so với quy định của pháp luật; trong đó, có ít nhất 40% bản TƯLĐTT đạt loại B ([31]).

- 100% cán bộ Công đoàn được quán triệt nghị quyết của Đảng, Công đoàn; Trên 90% đoàn viên được tuyên truyền, học tập các nghị quyết của Đảng, Công đoàn và pháp luật.

- 100% CĐCS khu vực hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước, 70% CĐCS ngoài khu vực nhà nước thành lập Ban Nữ công quần chúng theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam.

- Phấn đấu bồi dưỡng và giới thiệu ít nhất 12.000 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp. Hằng năm bình quân mỗi CĐCS bồi dưỡng, giới thiệu ít nhất 01 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp.

- Hàng năm, 100% công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tổ chức thực hiện việc kiểm tra tài chính cùng cấp.

+ Nhóm chỉ tiêu phối hợp:

- Phấn đấu hàng năm, 100% cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức Hội nghị cán bộ công chức, viên chức; 95% doanh nghiệp vốn nhà nước và 65% doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước tổ chức Hội nghị người lao động; 75% doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước tổ chức đối thoại tại nơi làm việc (định kỳ và đột xuất).

- Phấn đấu 100% cơ quan HCSN, DN nhà nước, 70% DN có vốn đầu tư nước ngoài tư nhân có tổ chức Công đoàn đăng ký xây dựng cơ quan, đơn vị doanh nghiệp “đạt chuẩn văn hóa”. Phấn đấu ít nhất 98% được công nhận “đạt chuẩn văn hóa”.

- Hằng năm LĐLĐ tỉnh và mỗi Công đoàn cấp trên cơ sở có ít nhất 05 hoạt động phối hợp với các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí cho ĐV&NLĐ.

+ Thực hiện một số chuyên đề trọng tâm, công trình điểm nhấn:

- Đề xuất Tổng Liên đoàn, Tỉnh ủy, UBND tỉnh hỗ trợ xây dựng ít nhất 01 thiết chế Công đoàn theo Quyết định 655/QĐ-TTg ngày 12/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về "phê duyệt đầu tư dự án xây dựng các Thiết chế Công đoàn ở các khu công nghiệp, khu chế xuất".

- Xây dựng các chương trình chuyên đề thực hiện Nghị quyết Đại hội X: Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, trình độ kỹ năng nghề nghiệp và đời sống văn hóa tinh thần cho ĐV&NLĐ; Phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn.

- Thực hiện ít nhất 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh (hoặc tương đương) về hoạt động Công đoàn và phong trào CNVCLĐ.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

Từ mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu trọng tâm, Đại hội xác định các nhiệm và giải pháp cụ thể trong nhiệm kỳ.

1.1. Chủ động tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; nâng cao năng lực của tổ chức Công đoàn, triển khai đa dạng các hoạt động thực hiện nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của ĐV&NLĐ; góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

Phối hợp thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện có hiệu quả thỏa ước lao động tập thể. Tập trung thực hiện tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của ĐV&NLĐ, nhất là ở những nơi chưa có tổ chức Công đoàn. Chủ động tham gia với chính quyền xây dựng chương trình, kế hoạch và phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến CNVCLĐ và Công đoàn; ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm về pháp luật Lao động và Công đoàn. Làm tốt công tác dự báo tình hình quan hệ lao động và giải pháp để giải quyết kịp thời, hiệu quả các vụ tranh chấp lao động, đình công trong các doanh nghiệp, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Nâng cao năng lực và trách nhiệm của BCH CĐCS trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của ĐV&NLĐ để thương lượng, đàm phán với NSDLĐ khi có vấn đề phát sinh, chủ động ngăn ngừa và giải quyết triệt để các vụ đình công, ngừng việc tập thể trong các doanh nghiệp.

1.2 Phát huy các nguồn lực để thiết thực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của ĐV&NLĐ.

Đầu tư nghiên cứu, đề xuất đổi mới cơ chế, chính sách để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trong việc chăm lo cho ĐV&NLĐ nhất là vấn đề nhà ở, nhà trẻ. Tuyên truyền vận động các chủ nhà trọ thực hiện đúng quy định về giá thuê phòng trọ, giá điện, nước sinh hoạt; tạo điều kiện thuận lợi cho con CNLĐ trong độ tuổi được chăm sóc, học hành ở những cơ sở đảm bảo yêu cầu. Tiếp tục vận động doanh nghiệp cải thiện, nâng cao chất lượng bữa ăn giữa ca của công nhân, giải quyết việc làm cho người lao động bị mất việc, cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo đảm an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe người lao động.

Mở rộng các hoạt động vay vốn từ nguồn quỹ quốc gia giải quyết việc làm, tín chấp cho CNLĐ vay vốn và từ các nguồn quỹ để nâng cao chất lượng cuộc sống. Đẩy mạnh các hoạt động điểm nhất của Công đoàn, hoạt động an sinh xã hội, góp phần cùng chính quyền các cấp chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng, Đề án của Chính phủ về nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho CNLĐ trong các KCN. Vận động các doanh nghiệp đầu tư, hỗ trợ cơ sở vật chất để tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao cho ĐV&NLĐ. 

1.3. Tiến hành thường xuyên, đồng bộ, chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, góp phần nâng cao tinh thần yêu nước, bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động cho ĐV&NLĐ. Chủ động thông tin về tổ chức và hoạt động Công đoàn đến ĐV&NLĐ; chú trọng công tác nắm bắt tư tưởng, nguyện vọng và định hướng tư tưởng cho ĐV&NLĐ. Tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

Gắn với giáo dục lý luận chính trị với lịch sử, truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng của dân tộc. Tổ chức các hình thức, biện pháp tuyên truyền phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh và điều kiện sinh hoạt của người lao động trong doanh nghiệp. Duy trì công tác tuyên truyền lưu động cho người lao động trong các khu nhà trọ.

Nhân rộng các mô hình, cá nhân điển hình tiêu biểu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Vận động cán bộ, công chức phấn đấu theo chuẩn mực “Trung thành, trách nhiệm, liêm chính, sáng tạo” gắn với việc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, chú trọng việc “nêu gương và làm theo” gắn với cuộc vận động Xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp “đạt chuẩn văn hóa”.

Tuyên truyền, vận động, và tranh thủ các nguồn lực và cộng đồng doanh nghiệp để hỗ trợ ĐV&NLĐ tham gia học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghề nghiệp; rèn luyện ý thức, tác phong lao động cho ĐV&NLĐ.

Chủ động tăng cường thông tin, tuyên truyền về hoạt động Công đoàn và nắm bắt dư luận xã hội, diễn biến tư tưởng, phát hiện những vấn đề mới phát sinh, những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của ĐV&NLĐ. Củng cố, nâng chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, công nhân nòng cốt trong các doanh nghiệp. Tăng cường công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức thông tin đối ngoại cho cán bộ Công đoàn các cấp. Thông qua công tác đối ngoại để tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh, hoạt động của tổ chức Công đoàn, của tỉnh Đồng Nai.

1.4. Đổi mới và nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua trong ĐV&NLĐ. Nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng phù hợp với điều kiện của ĐV&NLĐ từng khu vực. Chú trọng công tác phát hiện, biểu dương khen thưởng, bồi dưỡng, nhân rộng các mô hình, điển hình trong hoạt động Công đoàn và đóng góp mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao.

Các cấp công đoàn tập trung đổi mới nội dung và phương thức tổ chức các hoạt động thi đua yêu nước theo hướng thiết thực, hiệu quả; gắn phong trào thi đua yêu nước với việc chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho ĐV&NLĐ. Cụ thể hóa các phong trào thi đua bằng những nội dung và hình thức phù hợp với từng loại hình cơ sở, góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Hướng các mục tiêu của phong trào thi đua yêu nước vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị của tỉnh.

Tăng cường sự phối hợp giữa Công đoàn với các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp trong việc chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua và công tác khen thưởng trong hoạt động Công đoàn và phong trào CNVCLĐ.

1.5. Tinh gọn bộ máy tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động Công đoàn; đẩy mạnh công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS; phát huy vai trò của đoàn viên nòng cốt; Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Công đoàn; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh.

Xây dựng tiêu chí mới, nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của lực lượng đoàn viên, hội viên nòng cốt để nâng cao chất lượng hoạt động CĐCS.. Đổi mới cách thức tiếp cận, tuyên truyền, vận động người lao động gia nhập tổ chức Công đoàn.

Thường xuyên hướng dẫn nội dung hoạt động và xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng CĐCS phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. Chú trọng củng cố hoạt động Công đoàn bộ phận, tổ Công đoàn. Biên soạn tài liệu sổ tay công tác cho cán bộ Công đoàn; tài liệu sinh hoạt cho đoàn viên để nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ.

Thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao năng lực, từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ Công đoàn các cấp. Hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả Đề án vị trí việc làm trong hệ thống Công đoàn. Thực hiện nghiêm lộ trình tinh giản biên chế và bộ máy, đảm bảo tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Thực hiện tốt công tác phân cấp quản lý, xác định chức năng, nhiệm vụ của từng cấp công đoàn, khắc phục sự chồng chéo trong chỉ đạo; thực hiện tốt quy chế phối hợp hoạt động giữa LĐLĐ tỉnh với các cơ quan, đơn vị theo phân cấp.

Tập trung bồi dưỡng, giới thiệu những cán bộ, đoàn viên xuất sắc cho Đảng xem xét kết nạp, chú trọng đến đối tượng là công nhân nữ và CNLĐ trực tiếp sản xuất; tích cực tham gia công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong các loại hình doanh nghiệp, tham gia cải cách hành chính, thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí.

1.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả hoạt động UBKT và cán bộ làm công tác kiểm tra Công đoàn các cấp, đảm bảo thực hiện nguyên tắc, điều lệ Công đoàn; tích cực thực hiện việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ĐV&NLĐ thông qua giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của ĐV&NLĐ.

Củng cố, kiện toàn Ủy ban Kiểm tra các cấp đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra của Công đoàn. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp nhất là khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

Tiếp tục đổi mới phương pháp hoạt động ủy ban kiểm tra, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra cấp dưới, cùng cấp và các đơn vị trực thuộc. Thường xuyên tiến hành kiểm tra cùng cấp với 2 nội dung trọng tâm là việc chấp hành  Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Công đoàn và việc sử dụng, quản lý tài chính, tài sản Công đoàn. Lựa chọn nội dung kiểm tra phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm nguyên tắc và quy trình kiểm tra.

Giải quyết kịp thời, dứt điểm những khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Công đoàn. Tham mưu đề xuất xử lý kỷ luật nghiêm túc, chặt chẽ đối với tập thể, cá nhân có vi phạm, đồng thời, tích cực tham gia phối hợp với các cơ quan chức năng Nhà nước giải quyết những đơn, thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ĐV&NLĐ không để đơn, thư tồn đọng, hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp.

1.7. Thực hiện toàn diện và chất lượng công tác nữ công ở các cấp công đoàn, trọng tâm là bảo vệ quyền và việc làm bền vững của lao động nữ; phát huy vai trò của ĐV&NLĐ nữ; hỗ trợ, tạo điều kiện cho ĐV&NLĐ nữ xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; chăm lo tốt hơn con CNVCLĐ.

- Rà soát việc thành lập, củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Nữ công các cấp, chú trọng các doanh nghiệp có đông lao động nữ. Phát huy vai trò tham mưu của Ban Nữ công cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Công đoàn các cấp thực hiện tốt các quyền của lao động nữ, kịp thời giải quyết các vấn đề bức xúc của lao động nữ và điều kiện được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội; bảo đảm lao động nữ có việc làm bền vững, môi trường làm việc an toàn, bình đẳng. Thường xuyên tổ chức các hoạt động tư vấn, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lao động nữ; vận động nữ CNVCLĐ thực hiện tốt chính sách dân số và phát triển. Tiếp tục thực hiện giải pháp hỗ trợ lao động nữ đơn thân nuôi con nhỏ, lao động nữ nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian làm việc, thông qua việc thực hiện cabin trữ sữa tại doanh nghiệp và hỗ trợ một phần chi phí cho lao động nữ nuôi con nhỏ.

1.8. Tăng cường công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính, tài sản Công đoàn; tập trung xây dựng nguồn lực tài chính đủ mạnh để đáp ứng nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn trong tình hình mới; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp Công đoàn.

- Thực hiện công tác thu, chi tài chính công đoàn đảm bảo theo dự toán hàng năm Tổng Liên đoàn giao. Xây dựng lộ trình thu đoàn phí để dần thực hiện đúng quy định của Tổng Liên đoàn. Tiếp tục thực hiện công tác phối hợp với cơ quan Thuế cùng cấp và các cơ quan nhà nước thực hiện thu kinh phí công đoàn hàng năm, nhất là đối với những đơn vị chưa có tổ chức công đoàn, đồng thời, có giải pháp xử lý đối với những đơn vị nợ kinh phí Công đoàn và đoàn phí. 

Phân cấp tài chính Công đoàn toàn diện, triệt để ở các đơn vị đủ điều kiện; thực hiện nghiêm nguyên tắc quản lý sử dụng tài chính Công đoàn tích lũy, nguyên tắc phân phối tài chính công đoàn. Chi tài chính đảm bảo hiệu quả, tập trung kinh phí cho nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức công đoàn. Các cấp Công đoàn nghiêm túc thực hiện chương trình thực hành tiết kiệm chống lãng phí, nhất là chi phí quản lý hành chính.

Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát tài chính Công đoàn; chủ động ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nguyên tắc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản Công đoàn. bố trí cán bộ làm công tác tài chính đúng chuyên ngành, đồng thời, tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ Công đoàn phụ trách công tác tài chính đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng đơn vị. Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý theo hướng dẫn của Tổng Liên đoàn. Thực hiện công khai tài chính theo quy định của Nhà nước và của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

1.9. Đổi mới phương thức chỉ đạo và tổ chức thực hiện theo hướng lấy ĐV&NLĐ làm trung tâm; hoạt động chủ yếu ở cơ sở; công đoàn cấp trên phục vụ công đoàn cấp dưới; phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh. Tích cực tham gia cải cách hành chính, phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện. Chủ động tham mưu với cấp ủy, phối hợp với chính quyền để giải quyết những vấn đề mới phát sinh trong phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn.

Các cấp Công đoàn chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tổ chức sơ, tổng kết kịp thời để đánh giá kết quả thực hiện, rút kinh nghiệm bổ sung giải pháp, nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả; chủ động tham mưu, đề xuất Tỉnh ủy, Tổng Liên đoàn có chỉ đạo sâu sát, kịp thời với tình hình thực tiễn.

Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức và hoạt động Công đoàn. Cải tiến lề lối làm việc, sắp xếp bộ máy tinh gọn, hiệu quả, thực hiện đầy đủ quy chế làm việc của BCH, chế độ thông tin, báo cáo giữa các cấp; nâng cao chất lượng tham mưu và thực hiện nhiệm vụ của các ban chuyên đề LĐLĐ tỉnh. Thành lập các bộ phận phụ trách thực hiện các công trình, chuyên đề Nghị quyết đã đề ra.

Phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp, các ngành, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội. Thực hiện tốt công tác đối ngoại của Công đoàn, tăng cường mở rộng giao lưu, học tập kinh nghiệm với các Công đoàn cùng cấp và các tổ chức có liên quan đến hoạt động Công đoàn và phong trào CNVCLĐ.

òòò

Đại hội X Công đoàn tỉnh Đồng Nai là sự kiện chính trị quan trọng của tổ chức Công đoàn và giai cấp công nhân, thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyết tâm của ĐV&NLĐ tỉnh nhà, khẳng định tinh thần

ĐỔI MỚI – DÂN CHỦ – ĐOÀN KẾT – TRÁCH NHIỆM

Phát huy truyền thống cách mạng của giai cấp công nhân Đồng Nai, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, nắm bắt thời cơ, khắc phục những hạn chế yếu kém, vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, cùng với hệ thống chính trị và nhân dân quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới của đất nước, xây dựng Đồng Nai giàu mạnh, văn minh./.

 

 

 

 

BAN CHẤP HÀNH, UBKT LĐLĐ TỈNH ĐỒNG NAI

KHÓA X, NHIỆM KỲ 2018 - 2023

 

BAN THƯỜNG VỤ

Nguyễn Thị Như Ý

Chủ tịch

Tăng Quốc Lập

Phó Chủ tịch

Hồ Thanh Hồng

Phó Chủ tịch

Nông Văn Dũng

Phó Chủ tịch

Lê Hữu Hiền

Chánh Văn phòng LĐLĐ tỉnh

Nguyễn Thị Thuý

Trưởng ban Tài chính LĐLĐ tỉnh

Kiều Minh Sinh

Phó Ban CSPL LĐLĐ tỉnh

Nguyễn Việt Hoài

Chủ nhiệm UBKT LĐLĐ tỉnh

Lê Văn Vang

Chủ tịch LĐLĐ H.Nhơn Trạch

Nguyễn Đức Thành

Chủ tịch LĐLĐ TP.Biên Hòa

Phạm Văn Chiến

Chủ tịch Công đoàn Viên chức

Nguyễn Thị Tuyết

Chủ tịch CĐ KCN Biên Hòa

Phạm Minh Thành

PGĐ BHXH Đồng Nai

Hồ Văn Lộc

PGĐ Sở LĐTB&XH

 

BAN CHẤP HÀNH

Nguyễn Tấn Khanh

Trương Văn Hoà

Bùi Thị Nhàn

Trương Thị Kim Huệ

Trịnh Đức Thắng

Ngô Thị Hợi

Nguyễn Thị Tuyết Minh

Đỗ Thành Phương

Lê Đức Thuỵ

Trương Thị Bích Liên

Nguyễn Hữu Tài

Bùi Thị Hạnh

Nguyễn Ngọc Dũng

Trần Đăng Ninh

Đinh Việt Tiến

Nguyễn Chánh Bổn

Nguyễn Thị Hạnh

Vũ Ngọc Hà

Ngô Thị Hồng Châu

Nguyễn Thế Hựu

Lê Văn Lộc

Nguyễn Hữu Thành

Nguyễn Quốc Trị

Đặng Tuấn Tú

Hoàng Thị Bích Phú

Phạm Văn Cường

Đinh Sỹ Phúc

Đặng Thanh Thuỷ

Đỗ Phước Dũng

 

Phạm Trung Thuyên

Nguyễn Công Ký

 

 

ỦY BAN KIỂM TRA

Nguyễn Việt Hoài

Nguyễn Thị Bích Thuỷ

Vũ Thị Hoa

Vũ Ngọc Hà

Trần Thị Minh Châu

Trịnh Ngọc Quỳnh

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU………………………………………….

 

1

PHẦN THỨ NHẤT

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN

VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

VÀ CÁC KỲ ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN ĐỒNG NAI

 

I. CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM…………………………..

2

II. CÁC KỲ ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN ĐỒNG NAI…….

 

5

PHẦN THỨ HAI

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LẦN THỨ IX, NHIỆM KỲ 2013 – 2018

 

I. TÌNH HÌNH ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN CÁC CẤP.........

14

II. BỐI CẢNH ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN TỈNH LẦN X…

14

III. TÌNH HÌNH CNVCLĐ……………………………….

16

IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐH CÔNG ĐOÀN TỈNH LẦN IX, NHIỆM KỲ 2013 – 2018……….

 

19

V. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM…………………

 

34

PHẦN THỨ BA

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO CNVCLĐ

NHIỆM KỲ 2018 – 2023

 

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH...................................................

37

II. MỤC TIÊU...................................................................

38

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP………………………...

41

 

 

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

 

BAN THƯỜNG VỤ LĐLĐ TỈNH ĐỒNG NAI KHÓA X

 

 

BIÊN SOẠN

 

Tăng Quốc Lập

Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh

Trưởng ban Tuyên giáo

 

Lê Hữu Hiền

UVTV LĐLĐ tỉnh

Chánh Văn phòng

 

Kiều Minh Sinh

UVTV LĐLĐ tỉnh

Phó ban Chính sách pháp luật

 

Trịnh Đức Thắng

UVBCH LĐLĐ tỉnh

Phó ban Tuyên giáo

 

 



[1] Trích tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp” – Hồ Chí Minh

[2] Trích tác phẩm Đường Cách Mệnh” – Hồ Chí Minh

([3]) Công nghiệp - xây dựng chiếm 56,7%, dịch vụ chiếm 37,7%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 5,6%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 83-84 triệu đồng/người. Toàn tỉnh hiện có 32 KCN đang hoạt động (01 khu công nghệ cao), 42 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư với tổng số 1.242 dự án FĐI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 25,587 tỷ USD).

([4]) Tính đến 31/12/2017, toàn tỉnh có trên 1.200.000 lao động (tăng khoảng 20% so với đầu nhiệm kỳ). Trong đó khu vực hành chính sự nghiệp khoảng 48.000 người, khu vực doanh nghiệp có vốn nhà nước (TW+ĐP) 56.533 người, khu vực doanh nghiệp FDI 529.914 người, còn lại thuộc khu vực doanh nghiệp tư nhân, kinh doanh cá thể, lao động tự do. Số lao động làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn là 704.817 người.

([5]) Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 56,78%

([6]) Tính đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có 25 dự án nhà ở cho CNLĐ và nhà ở xã hội có khả năng bố trí cho gần 30.000 người. Bên cạnh đó, một số ít doanh nghiệp có từ 15 đến 20 ngàn lao động bước đầu triển khai các hồ sơ để thực hiện các dự án xây dựng nhà ở cho CNLĐ. Một số DN quy mô lớn có ký túc xá và nhà trẻ dành cho CNLĐ như: Tập đoàn Phong Thái, Tập đoàn Hưng Nghiệp Formosa, Cty TaeKwang vina, Cty Pouchen Việt Nam, Công ty công nghiệp Chính Xác (VPIC), Công ty sản xuất gỗ GreatKingdom, Công ty Vedan...

([7]) Bình quân hàng năm có 100% cơ quan, đơn vị tổ chức Hội nghị CB, CC,VC; 48% số doanh nghiệp có Công đoàn tổ chức Hội nghị NLĐ; Trong nhiệm kỳ qua đã  có hơn 2.000 cuộc đối thoại ở cơ sở.

([8]) Trong tổng số 990 bản TƯLĐTT, có 61 bản thỏa ước loại B, 326 bản loại C và 45 loại D. Trong nhiệm kỳ xảy ra 161 vụ đình công, lãn công (giảm 428 vụ so với nhiệm kỳ trước).

([9]) Trong nhiệm kỳ, phối hợp thanh, kiểm tra 576  trường hợp, phát hiện trên 200 vi phạm, kiến nghị xử lý trên 200 vụ.

([10]) LĐLĐ tỉnh đã ký kết các chương trình phúc lợi đoàn viên hỗ trợ giá sản phẩm cho ĐV&NLĐ với tổng số tiền giao dịch hơn 1.000 tỷ đồng. Hỗ trợ ĐV&NLĐ trong các dịp lễ tết số tiền trên 600 tỷ đồng. Hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà “Mái ấm Công đoàn” với tổng giá trị gần 2 tỷ đồng. Quỹ xã hội hỗ trợ 18 trường hợp bị bệnh hiểm nghèo, tai nạn lao động, trợ cấp khó khăn với số tiền 58.000.000 đồng. Quỹ CEP có 04 chi nhánh trên địa bàn tỉnh, tạo việc làm cho hơn 39.313 lao động, với số tiền hỗ trợ vay trên 421 tỷ đồng.

([11]) Các cấp Công đoàn đã tổ chức 254 lớp tập huấn, 195 đợt tuyên truyền lưu động cho 13.000 lượt cán bộ, ĐV&NLĐ về pháp luật chế độ chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống và việc làm của người lao động.

([12]) Trong 5 năm qua, đã có 1.164 tập thể, cá nhân được biểu dương, khen thưởng thành tích tiêu biểu xuất sắc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

([13]) Tính đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có 623 báo cáo viên, 1.406 tuyên truyền viên, trong đó có 39 báo cáo viên cấp tỉnh. Phát hành đến các CĐCS, ĐV&NLĐ 715.000 tài liệu tuyên truyền các loại (Sổ tay Pháp luật lao động, Pháp luật Công đoàn; bản tin đại đoàn kết; áp phích cổ động, tài liệu bướm; đĩa DVD…)

([14]) Trong nhiệm kỳ qua, các cấp Công đoàn đã phối hợp với Ban Tuyên giáo của các cấp ủy Đảng tổ chức cho 2.590.342 lượt cán bộ, ĐV&NLĐ học tập bồi dưỡng nhận thức lý luận chính trị cơ bản và các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay, trên 90 % UVBCH Công đoàn cấp trên cơ sở có trình độ đại học trở lên; 60,5 % ĐV&NLĐ có trình độ văn hóa tối thiểu là bậc trung học phổ thông; 56,78% ĐV&NLĐ qua đào tạo nghề, chuyên môn, nghiệp vụ.

([15]) Trong 5 năm qua đã có 425 hoạt động cấp tỉnh, cấp trên cơ sở và hàng chục ngàn hoạt động cấp cơ sở về văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phục vụ cho ĐV&NLĐ. Nhiều đơn vị, doanh nghiệp đã hỗ trợ đầu tư các thiết chế dành cho ĐV&NLĐ như nhà trẻ, ký túc xá, phòng đọc sách, khu sinh hoạt văn hóa thể thao công nhân… Trong nhiệm kỳ, có 92,3% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp “Đạt chuẩn văn hóa” (khối cơ quan, đơn vị đạt 99,88%, doanh nghiệp đạt 77,9 %).

([16]) Trong 5 năm qua, Báo Lao động Đồng Nai đã phát hành 624 kỳ với số lượng trên 3.120.000 tờ. Chuyên mục Lao động và Công đoàn phát sóng 2 tuần/ lần với thời lượng 15 phút. Hàng tháng phát hành 10.000 bản tin Đại đoàn kết đến các cấp Công đoàn, ĐV&NLĐ.

([17]) Trong 5 năm qua, ĐV&NLĐ trong tỉnh đã có trên 97.639 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, mẫu mã mới làm lợi cho các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên 1.000 tỷ đồng.

([18]) Trong nhiệm kỳ, có 1.529 tập thể và 2.302 cá nhân đã được các cấp Công đoàn biểu dương, khen thưởng. UBND tỉnh khen thưởng cho trên 300 cán bộ CĐ và CNLĐ có thành tích xuất sắc góp phần phát triển KT-XH tỉnh Đồng Nai.

([19]) Trong 5 năm qua, các cấp Công đoàn đã tổ chức hơn 350 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho 27.987 lượt cán bộ từ tổ trưởng Công đoàn trở lên (vượt chỉ tiêu); 02 lớp Đại học phần Công đoàn cho 236 cán bộ; 101 cán bộ Công đoàn tham gia các lớp trung cấp chính trị và 77 cán bộ tham gia các lớp Cao cấp chính trị.

Trình độ cán bộ

Tổng số

Đại học, trên ĐH

Cao đẳng, trung cấp

Cao cấp LLCT

Trung cấp LLCT

BCH CĐCS

11.179

59,52 %

11,45 %

5,49 %

19,51 %

BCH CĐ cấp trên CS

368

90,21 %

5,71 %

41,58 %

40,49 %

Chuyên trách cấp tỉnh

39

97,43 %

2,57 %

38,46 %

20,51 %

 

([20]) Bình quân hằng năm, CĐCS vững mạnh đạt tỷ lệ 85,6% (chỉ tiêu từ 75 - 80%%), trong đó, khối HCSN đạt 93,63 (chỉ tiêu, 90 - 95%), DN nhà nước đạt 95,55% (chỉ tiêu 90%), đầu tư nước ngoài đạt 79,25% (chỉ tiêu70%), doanh nghiệp tư nhân đạt 70,35% (chỉ tiêu 60%).

([21]) Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã giới thiệu 19.954 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp (chỉ tiêu 12.000). Có 8.351 ĐV được kết nạp vào ĐCS Việt Nam, đạt tỷ lệ 41,85%, trong đó 1.372 đoàn viên là CNLĐ trực tiếp sản xuất..

([22]) Tính đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có 1.778 UBKT/2.822 tổ chức Công đoàn, đạt tỷ lệ 63%, còn lại 1.165 đơn vị có ủy viên BCH phụ trách công tác kiểm tra. Tổng số 5.096 ủy viên UBKT các cấp, trong đó nữ chiếm 2.552 đồng chí (tỷ lệ 50,1%). Trong 5 năm qua, đã tổ chức 51 lớp tập huấn cho 7.025 lượt cán bộ phụ trách công tác kiểm tra.

([23]) Giải quyết và tham gia giải quyết 1.130 đơn thư của ĐV&NLĐ, giảm 674 đơn so với nhiệm kỳ VIII; can thiệp bảo vệ cho 195 người được trở lại làm việc, 33 người được hạ mức kỷ luật, 268 người được giải quyết về lương, 12 người được giải quyết về trợ cấp thôi việc và 13 người được hưởng các quyền lợi khác.

([24]) 16 TT và 14 cá nhân được TLĐ tặng cờ thi đua và bằng khen; 183 cá nhân được tuyên dương “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” cấp tỉnh, 307.912 lượt ĐV&NLĐ nữ được công nhận danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” cấp cơ sở.

([25]) Trong 5 năm qua, có 143.689 lượt ĐV&NLĐ nữ được giải quyết vay 1.678 tỷ đồng từ các nguồn tín chấp, Quỹ tương trợ và Quỹ “Vì nữ CNLĐ nghèo”.

([26]) Vận động các đơn vị, doanh nghiệp trao gần 10.000 suất học bổng với tổng giá trị trên 12 tỷ đồng (mỗi suất trị giá từ 500.000đ đến 5.000.000đ). Các cấp công đoàn còn phối hợp với chính quyền, doanh nghiệp tổ chức tặng quà, tham quan… cho 608.945 lượt con CNVCLĐ, với tổng kinh phí trên 100 tỷ đồng.

([27]) Tổng nợ BHXH toàn tỉnh hiện nay trên  211 tỷ đồng (theo số liệu của BHXH tỉnh, 30/3/2018).

([28]) so với tổng số lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn.

([29]) Xây dựng tiêu chí Đoàn viên nòng cốt theo Chỉ thị 19-CT/TU ngày 14/2/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai về nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của lực lượng đoàn viên, hội viên nòng cốt trên địa bàn.

([30]) Theo Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 01/3/2017 của Ban Chấp hành Đảng bộ (khóa X)

([31]) Theo Chương trình 1468/Ctr-TLĐ ngày 09/10/2013 của BCH Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Kế hoạch số 79/KH-LĐLĐ ngày 04/6/2014 của Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh về nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện có hiệu quả thỏa ước lao động tập thể giai đoạn 2013 - 2018.

Thăm dò ý kiến

Đánh giá Giao diện - Thông tin cập nhật trên Trang thông tin điện tử Thị xã Long Khánh



 

Liên kết website

Website Xã - Phường

Lượt truy cập

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THỊ XÃ LONG KHÁNH

Cơ quan chủ quản: THỊ ỦY-UBND THỊ XÃ LONG KHÁNH
Chịu trách nhiệm chính: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Long Khánh.
Địa chỉ: Cách Mạng Tháng Tám, phường Xuân An, Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Email: ​daitruyenthanh.longkhanh@gmail.com​